DetailController

QUY ĐỊNH MỚI VỀ GHI NHÃN HÀNG HOÁ

Một số điểm thay đổi về ghi nhãn hàng hoá quy định tại Nghị định số 37/2026/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa so với Nghị định số 43/2017/NĐ-CP ngày 14 tháng 4 năm 2017 của Chính phủ quy định về nhãn hàng hóa được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 111/2021/NĐ-CP.

Tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 37/2026/NĐ-CP quy định “Các nội dung bắt buộc khác phải thể hiện trên nhãn hàng hóa theo tính chất của mỗi loại hàng hóa” so với Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định 111/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 43/2017/NĐ-CP có nhiều nội dung được điều chỉnh trực tiếp theo từng nhóm, trong đó có những thay đổi có tác động lớn đến thực tiễn công tác kiểm tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính về nhãn hàng hoá của các lực lượng chức năng.
Đáng chú ý trước hết là nhóm “Thực phẩm”: theo Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định 37/2026/NĐ-CP, thực phẩm ghi “Hạn sử dụng/Sử dụng tốt nhất trước ngày … (Best before …)”, trong khi đó, theo quy định tương ứng của Nghị định 111/2021/NĐ-CP chỉ ghi “Hạn sử dụng”. Việc bổ sung cụm từ “Sử dụng tốt nhất trước ngày … (Best before …)” là điểm mới quan trọng, sau thời điểm này, sản phẩm có thể giảm các đặc tính về chất lượng nhưng không mặc định mất an toàn; việc lưu thông và sử dụng sản phẩm phải tuân thủ yêu cầu an toàn và chất lượng sản phẩm, hàng hóa quy định của pháp luật.
Đối với nhóm “Thực phẩm biến đổi gen”: Nghị định 37/2026/NĐ-CP quy định rõ chỉ áp dụng yêu cầu ghi cụm từ “Thực phẩm biến đổi gen” hoặc ghi “biến đổi gen” bên cạnh tên thành phần khi có ít nhất một thành phần nguyên liệu biến đổi gen lớn hơn 5% tổng nguyên liệu. Trước đây, Nghị định 111/2021/NĐ-CP không xác định ngưỡng cụ thể này, việc bổ sung mốc 5% giúp thu hẹp phạm vi bắt buộc, tránh xử lý trong trường hợp hàm lượng rất nhỏ, không đáng kể.
Về yêu cầu ghi ngày sản xuất đầy đủ: nhiều nhóm hang hoá trong Phụ lục I thể hiện rõ xu hướng chuẩn hóa. Chẳng hạn, đối với “Lương thực”, “Thực phẩm”, “Đồ uống”, “Thuốc lá”, “Trang thiết bị bảo hộ lao động, phòng cháy chữa cháy” đều yêu cầu ghi “Ngày, tháng, năm sản xuất” so với cách ghi trước đây chỉ thể hiện “Ngày sản xuất”, việc bổ sung đủ ba cấu phần thời gian cho thấy quy định mới chặt chẽ hơn; những trường hợp chỉ ghi “NSX: 2026” hoặc “NSX: 03/2026” sẽ không còn đáp ứng nếu thuộc nhóm phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm.
Ở các nhóm sản phẩm công nghiệp: “Sản phẩm nhựa, cao su”, “Giấy, bìa, cacton”, về máy móc, quy định hiện hành yêu cầu “Tháng, năm sản xuất”. Điều này khắc phục tình trạng trước đây chỉ ghi “Tháng sản xuất” mà không có năm, gây khó khăn cho việc truy xuất và xác định thời hạn lưu thông.
Một điểm mới đáng chú ý khác là đối với “Các sản phẩm từ dầu mỏ”: Nghị định 37/2026/NĐ-CP bổ sung nội dung bắt buộc phải ghi “Số lô sản phẩm”. Trước đây, nội dung này không được quy định rõ trong Nghị định 111/2021/NĐ-CP, việc bổ sung số lô có ý nghĩa đặc biệt trong truy xuất nguồn gốc khi xảy ra sự cố kỹ thuật hoặc khiếu nại chất lượng.
Đối với “Hóa chất gia dụng”: quy định mới nêu rõ “Số đăng ký lưu hành tại Việt Nam” chỉ áp dụng đối với hàng hóa phải thực hiện thủ tục đăng ký lưu hành theo pháp luật chuyên ngành. Đây là điểm điều chỉnh quan trọng so với cách áp dụng trước đây mang tính bao quát. Khi kiểm tra, lực lượng chức năng phải xác định rõ sản phẩm có thuộc diện đăng ký lưu hành hay không trước khi xem xét xử lý vì thiếu nội dung này.
Hoặc đối với “Sản phẩm tẩy rửa, xả vải, khử mùi, làm thơm gia dụng”: Nghị định 37/2026/NĐ-CP đã mở rộng phạm vi so với cách gọi “Chất tẩy rửa” trước đây. Việc liệt kê cụ thể các nhóm sản phẩm đồng nghĩa nhiều mặt hàng vốn chưa được chú ý trong nhóm này nay phải tuân thủ đầy đủ nội dung bắt buộc.
Đặc biệt, đối với “Vàng miếng” là nhóm hoàn toàn mới được bổ sung trong Nghị định 37/2026/NĐ-CP, với các nội dung bắt buộc gồm hàm lượng, khối lượng, mã ký hiệu sản phẩm và thông tin cảnh báo nếu có. Trước đây Nghị định 111/2021/NĐ-CP không có quy định riêng cho vàng miếng trong phụ lục tương ứng. Điều này cho thấy xu hướng tăng cường quản lý đối với nhóm hàng đặc thù có giá trị cao.
Nhìn tổng thể Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định 37/2026/NĐ-CP cho thấy sự điều chỉnh theo hướng đồng bộ, chuẩn hóa cách ghi ngày sản xuất, bổ sung yếu tố truy xuất như số lô, mở rộng một số nhóm hàng và đồng thời thu hẹp những yêu cầu có thể gây nhầm lẫn trong xử phạt vi phạm hành chính. Việc nắm chắc quy định về ghi nhãn hàng hoá đối với từng nhóm hàng hoá là yêu cầu bắt buộc để tránh áp dụng nhầm so với quy định đã hết hiệu lực. Thông qua rà soát, đối chiếu thực tế hàng hóa lưu thông trên thị trường, tổ chức sinh hoạt nghiệp vụ chuyên đề và cập nhật văn bản pháp luật mới, đội ngũ công chức không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng áp dụng quy định pháp luật trong kiểm tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính.

 

Huỳnh Vũ Linh
Chi cục Quản lý thị trường tỉnh An Giang